Giả sử một gia đình trẻ ở Đà Nẵng có thu nhập gộp 50 triệu đồng mỗi tháng, đang cân nhắc vay 1,5 tỷ đồng mua căn hộ 2 phòng ngủ. Với lãi suất thả nổi phổ biến 13%/năm, khoản trả góp hàng tháng rơi vào khoảng 25 triệu đồng, đúng bằng một nửa thu nhập cả gia đình. Đây không phải phép tính cực đoan, mà nằm giữa khoảng lãi suất và mức trả góp phổ biến hiện nay.
Theo CafeF ngày 28/07/2026, lãi suất vay mua bất động sản thả nổi phổ biến hiện ở mức 12-14%/năm, một số ngân hàng áp tới 16,5%/năm, trong khi cùng kỳ năm trước mặt bằng chung chỉ 6,5-7%/năm. Khoảng cách đó đủ để nhiều gia đình phải nhìn lại: vay mua ngay, hay tiếp tục thuê chờ thời điểm tốt hơn?
Vì sao ngày càng nhiều người trẻ chọn thuê thay vì mua?
Trả lời thẳng: Vì khoản trả góp hàng tháng hiện cao gấp 5-10 lần tiền thuê cùng phân khúc. Theo CafeF, hơn 60% người dưới 35 tuổi tại Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng đang chọn thuê nhà, và tỷ lệ này có thể tăng lên 60-80% nếu giá nhà tiếp tục neo cao trong khi thu nhập tăng chậm.
Con số nền cho thấy khoảng cách này không phải cảm tính. GDP bình quân đầu người năm 2024 khoảng 9,5 triệu đồng/tháng. Nếu để dành toàn bộ thu nhập, một người cần khoảng 26 năm mới đủ tiền mua căn hộ 60m² giá 3 tỷ đồng, chưa tính trượt giá. Trong khi đó, khoản vay 1,5-2 tỷ đồng hiện khiến người vay phải trả 25-60 triệu đồng mỗi tháng, tùy kỳ hạn và ngân hàng.
| Khu vực | Giá căn hộ tăng (5 năm) | Thu nhập tăng (bình quân/năm) |
|---|---|---|
| Hà Nội | +72% | 6-10% |
| TP.HCM | +50% | |
| Đà Nẵng | +34% |
Khi nào nên vay mua, khi nào nên tiếp tục thuê?
Không có công thức đúng cho tất cả, nhưng có vài câu hỏi nên tự trả lời trước khi ký hợp đồng vay. Trả góp hàng tháng có vượt quá 40-50% thu nhập gộp của gia đình không? Nếu vượt, đây là dấu hiệu nên cân nhắc thuê thêm một thời gian, tích lũy vốn tự có nhiều hơn để giảm tỷ lệ vay. Lãi suất ưu đãi ban đầu kéo dài bao lâu, và mức thả nổi sau đó có nằm trong khả năng chi trả dài hạn hay không, chứ không chỉ nhìn vào con số hấp dẫn 6 tháng đầu.
Ngược lại, nếu đã có sẵn 40-50% giá trị căn nhà bằng vốn tự có, khoản vay còn lại nằm dưới ngưỡng 30-35% thu nhập, và có nhu cầu ở thực (không phải đầu cơ ngắn hạn), thời điểm lãi suất cao vẫn có thể chấp nhận được, vì đây là quyết định dài hạn 15-25 năm, không phải canh đúng đáy lãi suất từng quý.
Với gia đình giả định ở trên, lựa chọn hợp lý có thể là thuê thêm một thời gian, dồn phần chênh lệch giữa tiền thuê và tiền trả góp vào tiết kiệm, tới khi tỷ lệ vốn tự có đủ cao mới quay lại bài toán vay. Không có quyết định đúng cho tất cả. Chỉ có quyết định phù hợp với đúng con số thu nhập của từng gia đình.